
Những thông tin cần biết trong ngày thứ Tư, 21 tháng 10:
Thị trường tài chính vẫn tương đối trầm lắng vào giữa tuần do thiếu vắng các dữ liệu kinh tế vĩ mô quan trọng. Mặc dù đồng bảng Anh biến động phần nào sau khi dữ liệu lạm phát được công bố, đồng tiền này vẫn chưa thể xác lập hướng đi rõ ràng so với các đồng tiền khác.
Bảng dưới đây thể hiện mức thay đổi theo phần trăm của đồng bảng Anh (GBP) so với các đồng tiền chủ chốt được liệt kê trong tuần này. Bảng Anh tăng mạnh nhất so với đồng yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.33% | -0.51% | 0.05% | -0.42% | -0.87% | -0.38% | -0.09% | |
| EUR | 0.33% | -0.14% | 0.43% | -0.03% | -0.47% | -0.03% | 0.27% | |
| GBP | 0.51% | 0.14% | 0.57% | 0.13% | -0.29% | 0.12% | 0.47% | |
| JPY | -0.05% | -0.43% | -0.57% | -0.46% | -0.92% | -0.43% | -0.02% | |
| CAD | 0.42% | 0.03% | -0.13% | 0.46% | -0.46% | 0.08% | 0.38% | |
| AUD | 0.87% | 0.47% | 0.29% | 0.92% | 0.46% | 0.42% | 0.74% | |
| NZD | 0.38% | 0.03% | -0.12% | 0.43% | -0.08% | -0.42% | 0.34% | |
| CHF | 0.09% | -0.27% | -0.47% | 0.02% | -0.38% | -0.74% | -0.34% |
Bản đồ nhiệt thể hiện mức thay đổi theo phần trăm của các đồng tiền chủ chốt so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, còn đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ, nếu chọn bảng Anh ở cột bên trái rồi di chuyển theo hàng ngang đến đô la Mỹ, mức thay đổi theo phần trăm hiển thị trong ô sẽ tương ứng với GBP (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).

Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS) cho biết lạm phát hằng năm, được đo bằng mức thay đổi của Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tăng lên 3,5% trong tháng 9 từ mức 3,1% trong tháng 8. Con số này cao hơn mức dự báo 3,4% của thị trường. CPI lõi, không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng dễ biến động, tăng 2,8%, sau mức tăng 2,6% được ghi nhận trước đó. Các chi tiết khác trong báo cáo cho thấy Chỉ số giá bán lẻ tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, đúng như dự báo. Sau khi tăng khoảng 0,5% và đạt mức cao nhất kể từ giữa tháng 9 ở trên ngưỡng 1,3400 vào thứ Ba, GBP/USD đi ngang quanh mức 1,3370 trong phiên sáng châu Âu thứ Tư. EUR/GBP giảm nhẹ trong ngày, xuống dưới 0,8400, trong khi GBP/JPY hầu như không đổi ở mức 211,50.
Chỉ số đô la Mỹ (USD) đóng cửa giảm điểm vào thứ Ba khi dòng tiền hướng vào các tài sản rủi ro chi phối diễn biến thị trường tài chính sau phiên mở cửa tăng điểm của Phố Wall. Đầu ngày thứ Tư, chỉ số USD giữ được mức tăng nhẹ nhưng vẫn dưới ngưỡng 102,00, trong khi hợp đồng tương lai các chỉ số chứng khoán Mỹ tăng từ 0,1% đến 0,5%. Theo CNBC, sau khi thị trường đóng cửa, SpaceX công bố doanh thu quý III tăng trưởng 161%, nhờ mảng kinh doanh trí tuệ nhân tạo tăng trưởng gấp chín lần. Tesla sẽ công bố kết quả kinh doanh quý III sau khi thị trường đóng cửa vào thứ Tư.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi cho biết các cuộc đàm phán gián tiếp với Mỹ vẫn đang tiếp diễn thông qua các nước trung gian. Ông Araghchi giải thích thêm rằng Washington đã đồng ý với đề xuất kéo dài bảy ngày của Iran nhưng muốn bổ sung một số điều kiện, dù ông từ chối tiết lộ chi tiết. Theo các thông tin được đưa tin, ông Araghchi cũng chỉ ra rằng không thể tin tưởng Mỹ trong quá trình đàm phán. Sau những biến động trong phiên thứ Ba, giá dầu thô nhích lên vào thứ Tư, với giá mỗi thùng dầu West Texas Intermediate (WTI) tăng khoảng 1% trong ngày.
Các nhà phân tích tại Deutsche Bank nhận định giao dịch dầu hôm qua chủ yếu chịu tác động của những biến động do tin tức xoay quanh các cuộc đàm phán Trung Đông. Họ chỉ ra rằng dầu Brent “giảm từ khoảng 112 USD xuống 106 USD vào đầu giờ chiều tại London sau khi một số thông tin chưa được xác nhận cho biết Qatar và Pakistan đã đưa ra một đề xuất có khả năng khôi phục các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột ở Trung Đông.”
Tuy nhiên, Deutsche Bank cho biết thêm rằng diễn biến này nhanh chóng đảo chiều khi luồng thông tin thay đổi. “Sau đó, giá dầu thô Brent bắt đầu tăng trở lại khi thông tin trên bị một nhà ngoại giao tham gia đàm phán bác bỏ.” Dẫn nguồn Bloomberg, các nhà phân tích nhấn mạnh rằng “mặc dù các cuộc đàm phán nhằm đạt được thỏa thuận vẫn đang diễn ra, thông tin cho rằng các bên đàm phán đã tiến gần đến một giải pháp là không đúng,” giúp dầu Brent lấy lại phần lớn mức giảm trước đó.
USD/JPY tiếp tục đi ngang quanh mức 158,00 trong phiên sáng châu Âu thứ Tư. Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama cho biết vào thứ Tư rằng chính phủ đang phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và không có bất đồng lớn về triển vọng lạm phát cũng như chính sách. Dữ liệu Nhật Bản công bố trước đó trong ngày cho thấy xuất khẩu và nhập khẩu trong tháng 9 tăng lần lượt 16,7% và 18,9% so với cùng kỳ năm trước. Cả hai con số đều thấp hơn dự báo của các nhà phân tích.
EUR/USD tiếp tục dao động trong biên độ tương đối hẹp trên ngưỡng 1,1200 vào thứ Tư, đánh dấu ngày thứ ba liên tiếp. Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde dự kiến sẽ có bài phát biểu vào cuối ngày.
Vàng tiếp tục chịu áp lực sau khi đóng cửa giảm nhẹ vào thứ Ba và tiến sát mức 4.100 USD vào đầu ngày thứ Tư.
Lạm phát đo lường mức tăng giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ đại diện. Lạm phát toàn phần thường được thể hiện bằng mức thay đổi theo phần trăm so với tháng trước (MoM) và so với cùng kỳ năm trước (YoY). Lạm phát lõi loại trừ các thành phần biến động mạnh hơn như thực phẩm và nhiên liệu, vốn có thể biến động do các yếu tố địa chính trị và mùa vụ. Lạm phát lõi là chỉ số được các nhà kinh tế tập trung theo dõi và cũng là chỉ số mà các ngân hàng trung ương đặt mục tiêu kiểm soát. Các ngân hàng trung ương có nhiệm vụ duy trì lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, thường là khoảng 2%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian. Chỉ số này thường được thể hiện bằng mức thay đổi theo phần trăm so với tháng trước (MoM) và so với cùng kỳ năm trước (YoY). CPI lõi là chỉ số mà các ngân hàng trung ương đặt mục tiêu kiểm soát vì chỉ số này loại trừ các thành phần thực phẩm và nhiên liệu dễ biến động. Khi CPI lõi tăng trên 2%, lãi suất thường tăng theo; ngược lại, khi chỉ số này giảm xuống dưới 2%, lãi suất thường giảm. Vì lãi suất cao hơn có tác động tích cực đến đồng tiền, lạm phát cao hơn thường khiến đồng tiền mạnh lên. Điều ngược lại xảy ra khi lạm phát giảm.
Mặc dù có vẻ trái với trực giác, lạm phát cao tại một quốc gia lại đẩy giá trị đồng tiền của quốc gia đó lên, và lạm phát thấp hơn có tác động ngược lại. Nguyên nhân là ngân hàng trung ương thường nâng lãi suất để kiềm chế lạm phát cao, qua đó thu hút thêm dòng vốn toàn cầu từ những nhà đầu tư đang tìm kiếm nơi sinh lời hấp dẫn để gửi tiền.
Trước đây, vàng là tài sản mà nhà đầu tư tìm đến trong những thời kỳ lạm phát cao nhờ khả năng bảo toàn giá trị. Mặc dù nhà đầu tư vẫn thường mua vàng vì đặc tính trú ẩn an toàn trong những giai đoạn thị trường biến động cực mạnh, điều này không đúng trong phần lớn các trường hợp. Nguyên nhân là khi lạm phát cao, các ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Lãi suất cao hơn gây bất lợi cho vàng vì làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng so với việc đầu tư vào tài sản sinh lãi hoặc gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm. Ngược lại, lạm phát thấp hơn thường có lợi cho vàng vì kéo lãi suất xuống, khiến kim loại quý này trở thành một lựa chọn đầu tư thay thế hấp dẫn hơn.